Cách mạng 4.0: Sửa mô hình tăng trưởng dựa vào tăng vốn

(Diễn đàn trí thức) - Dù đạt được nhiều thành tựu nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn đang tồn tại nhiều hạn chế. Cách mạng 4.0 sẽ mở ra những cánh cửa hi vọng mới.

Thành tích nhưng chưa vui

Tại Diễn đàn khoa học "Tái cơ cấu nền kinh tế trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4", GS-TSKH Lê Du Phong, nguyên Quyền Hiệu trưởng Đại học Kinh tế quốc dân đã có những đánh giá toàn diện về kinh tế Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới.

Cach mang 4.0: Sua mo hinh tang truong dua vao tang von
Cách mạng 4.0 và cơ hội tái cơ cấu nền kinh tế. Ảnh minh họa

Theo đó, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Từ một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần khiết, Việt Nam dần chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng với nhiều thay đổi về chủ trương, đưa ra các quyết sách quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển và sớm theo kịp trào lưu chung của thời đại.

Điển hình là sự ra đời của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật các tổ chức Tín dụng.v.v. với sự thay đổi rất lớn về tư tưởng, quan điểm phù hợp hơn với thực tiễn của đất nước, hội nhập mạnh hơn với khu vực và thế giới, tích cực đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, kiên quyết loại bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp, tạo điều kiện ngày càng thông thoáng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất-kinh doanh.

Riêng năm 2016, Chính phủ đã loại bỏ 252 thủ tục hành chính không cần thiết, sửa đổi 901 thủ tục hành chính không hợp lý và bỏ 3.500 điều kiện kinh doanh ban hành chưa đúng thẩm quyền. Nhờ đó, nền kinh tế của Việt Nam đã có sự phát triển tương đối nhanh và đạt được nhiều thành tựu khá ấn tượng.

Trong 22 năm qua kinh tế Việt Nam luôn đạt tốc độ phát triển tương đối cao, mặc dù đây là giai đoạn có không ít khó khăn, nhất là khủng hoảng kinh tế và sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. GDP bình quân đầu người đã tăng 7,96 lần sau 22 năm, một con số khá ấn tượng. Số doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế tăng 39,92 lần sau 22 năm. Kim ngạch xuất khẩu cũng tăng 39,33 lần.

"Có thể khẳng định đây là một thành tựu không nhỏ và cũng rất đáng tự hào", GS-TSKH Lê Du Phong cho biết.

Đặc biệt, theo GS-TSKH Lê Du Phong, cơ cấu của nền kinh tế (cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu lao động) đều có sự chuyển dịch tương đối nhanh theo hướng tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.

Tỷ trọng của khu vực Nông nghiệp (theo nghĩa rộng là cả Lâm nghiệp và Ngư nghiệp) trong cơ cấu GDP cũng như trong cơ cấu lao động đều có tốc độ giảm khá nhanh. Ngược lại, tỷ trọng của khu vực Công nghiệp-Xây dựng và Dịch vụ có sự tăng tương đối rõ.

Tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước đã có sự giảm đáng kể, và tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh (Riêng khu vực kinh tế ngoài Nhà nước giảm mạnh là điều không phù hợp với xu thế chung).

Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, song vị GS cũng thừa nhận nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, đáng quan ngại.

Cụ thể về trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam đang còn ở mức khá thấp. Mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng là chính.

Biểu hiện rõ nhất nhìn từ tăng trưởng của nền kinh tế cho thấy, chủ yếu vẫn dựa trên nền tảng của tăng vốn đầu tư, của việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng thấp và khai thác kiệt quệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.(Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2017 mới đạt 21,4%; Chỉ số hiệu quả môi trường (Environmental Performance Index-EPI) năm 2018 đạt dưới trung bình-46,96 điểm, xếp thứ 132/180 quốc gia, và liên tục giảm trong mấy năm vừa qua, năm 2012 đạt 50,6/100 điểm-GS Ngô Thắng Lợi-KTQD), Yếu tố vốn năm 2016 đóng góp vào tăng trưởng 49,55% ( GS Nguyễn Quang Thái, Nguyễn Quỳnh Hoa).

Tiếp theo, hình thức tổ chức sản xuất lạc hậu. Nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là khu vực sản xuất rộng lớn và quan trọng của nền kinh tế nước nhà, nhưng chủ yếu là do 8,58 triệu hộ nông dân đảm nhận, với phương thức canh tác lạc hậu, nhỏ lẽ và phân tán(8,58 triệu hộ nông dân canh tác trên 75 triệu mãnh ruộng-thời Pháp thuộc chỉ có 15 triệu mãnh). Cả nước năm 2017 có 612.000 doanh nghiệp, nhưng 96% trong số đó là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Còn HTX chỉ có 13.012 cái, Trang trại (quy mô nhỏ) chí có 29.933 cái.

Ngoài ra, cơ cấu của nền kinh tế còn khá lạc hậu. Năm 2016, trong khi khu vực Nông nghiệp của Việt Nam vẫn chiếm 16,3% trong GDP thì của Thái Lan chỉ là 8,3%, Malaysia là 8,7%, của Hungary (cũng là nước chuyển đổi) là 4,4% và của Hà Lan là 1,6%. Cũng trong năm này khu vực dịch vụ của Việt Nam chiếm 40,9%, thì của Thái Lan là 55,8%, của Malaysia là 53%, Hungary là 65,1% và Hà Lan là 78,2%.

Trong khi đó, công nghệ sử dụng trong nền kinh tế đa phần ở trình độ thấp, lạc hậu. Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện tại, công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp ở Việt Nam tụt hậu 2-3 thế hệ so với thế giới. Có trên 70% máy móc, dây chuyền công nghệ thuộc thế hệ những năm 1960-1970, phần lớn là hết khấu hao và được tân trang lại. Nhóm ngành sử dụng công nghệ cao mới khoảng trên 25% (tỷ lệ này của Mallaysia và Thái Lan là trên 50%).

Thứ Hai, 15/10/2018 07:20

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện