Bêu tên người mua dâm: Phảng phất thời "gọt đầu, bôi vôi"!

(Tin tức thời sự) - Coi mại dâm là một nghề ở VN chưa hội đủ các điều kiện và vẫn đang tranh cãi bất phân thắng bại - TS Lê Hồng Sơn (Bộ Tư pháp).

PV: - Thưa ông, HN vừa đề xuất tăng mức xử phạt với người mua dâm và công khai dang tính người mua dâm đến địa phương để kiểm điểm, giáo dục, quan điểm của ông thế nào?

 TS Lê Hồng Sơn: Theo tôi, kiến nghị của HN chỉ là một thông tin cần quan tâm.

Tại sao tôi nói vậy? Thứ nhất, dù là thủ đô HN cũng chỉ là một trong số 63 tỉnh, thành, cơ quan có thẩm quyền cần phải nghiên cứu tổng hợp tất cả ý kiến của các tỉnh, thành trong đó có HN. Đấy là chưa kể ý kiến của các bộ, ngành của Trung ương. Tôi đặc biệt lưu ý đến việc lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản làm căn cứ cho việc đề xuất sửa đổi, bổ sung rồi lại còn ý kiến của công luận, của báo chí.

Thứ hai, việc xử lý người mua dâm như thế nào đã bàn từ lâu, không phải mới - vừa cổ điển, truyền thống lại vừa mang tính thời sự.

Xin lưu ý, thái độ của chính quyền đối với hành vi mua, bán dâm, ngay từ đầu đã có những nhóm quan điểm rất khác nhau. Có nhiều ý kiến muốn hợp pháp hóa để quản lý, thu thuế, nhưng ý kiến này chưa được chấp thuận. Chủ yếu là do quan điểm truyền thống, nhận thức đánh giá vấn đề phong tục tập quán… Về một góc độ nào đó, vấn đề này cũng gần gần với vấn đề hợp pháp hóa hành vi đánh bạc hay không. Bàn cãi mãi nhưng cho đến nay quan điểm truyền thống vẫn đang thắng thế. Theo tôi, những vấn đề này còn tranh luận dài dài không phải một sớm một chiều có thể giải quyết ổn thỏa được vì rất nhiều yếu tố chi phối.

Coi mại dâm là một nghề vẫn còn nhiều tranh cãi
Coi mại dâm là một nghề vẫn còn nhiều tranh cãi

Vấn đề xử phạt hay không và xử phạt như thế nào đối với hành vi mua, bán dâm cũng là một vấn đề nhạy cảm. Chúng ta đã chứng kiến việc thay đổi biện pháp xử lý đối với người bán dâm như xóa bỏ trại phục hồi nhân phẩm, chữa bệnh bắt buộc… Quốc hội đã quyết như thế nhưng trong xã hội nhiều người đồng tình, song cũng có không ít người phản đối. Nâng mức xử phạt hành chính đối với người mua dâm cũng nằm trong tổng thể những vấn đề vừa nêu.

Theo tôi, nâng mức xử phạt trong một số trường hợp là cần thiết nhưng không nên coi đó là biện pháp mang tính quyết định. Quan trọng là mọi hành vi đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh còn nặng hay nhẹ chỉ là một trong nhiều yếu tố. Hơn nữa, theo tôi, vấn đề xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua dâm không phải thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống mại dâm mà là phải đưa vào hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, cụ thể là Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định tương ứng của Chính phủ.

Khi quyết định khung, mức phạt, biện pháp xử phạt đối với loại hành vi nào cũng đã được Quốc hội, Chính phủ cân nhắc rất kỹ lưỡng. Như vậy, theo tôi, việc nâng mức phạt đối với hành vi mua dâm (kể cả bán dâm) cũng rất cần phải được xem xét một cách thận trọng, tính toán từ nhiều góc độ, không thể bồng bột, xốc nổi được.

Vấn đề công khai danh tính người mua dâm đến đoàn thể, chính quyền địa phương để kiểm điểm, giáo dục thật ra đây là vấn đề không mới và chưa được chấp thuận. Không đơn giản khi nhìn nhận đến những tác động của việc công khai danh tính gây ra cho xã hội, cộng đồng, cơ quan, đơn vị và chính gia đình, bản thân người đó. Trong khi hành vi mua dâm, đồng ý là sai trái, nhưng có đến mức phải dùng biện pháp như thế hay không?  Hệ lụy, tác động có nó không thể so sánh với biện pháp công khai danh tính người vi phạm trật tự ATGT. Đến đây, tôi lại liên tưởng đến cách hành xử của các cụ ngày xưa trong xã hội phong kiến.

Về kiến nghị sửa đổi khái niệm bán dâm tại Khoản 1 Điều 3. Sửa cụm từ “giao cấu” thành cụm từ “thỏa mãn tình dục”, để xử lý được hành vi kích dục của người khác giới và hành vi mua bán dâm của người đồng giới. Tôi thấy, đây cũng là một ý tưởng, kiến nghị cần nghiên cứu. Tuy nhiên, cần phải xác định nội hàm và tính chất hành vi để xử phạt cho chính xác. Tôi cho rằng, "thỏa mãn tình dục" là một khái niệm quá rộng, khó định bản chất hành vi cho nên không nên dùng khái niệm này thay cho khái niệm đang sử dụng trong pháp luật hiện hành.

PV:- Xóa trại phục hồi nhân phẩm, bỏ chữa bệnh bắt buộc nhưng lại cho nộp phạt để tồn tại như vậy chẳng khác nào đã một nửa thừa nhận mại dâm là một nghề. Về mặt quản lý, nghĩa là có vấn đề, thưa ông?

 TS Lê Hồng Sơn: Không có chuyện ngầm thừa nhận. Nói vậy là không đúng. Việt Nam chưa thừa nhận (hoặc như bạn nói "thừa nhận một nửa") mại dâm là một nghề. Việc sửa đổi cơ chế xử lý như bạn nêu là xác lập cơ chế hợp lý hơn khi xử lý hành vi hành nghề mại dâm. 

Dù sao đi nữa, tôi đã nói rồi, đây là một vấn đề xã hội nhạy cảm, liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều điều kiện. Phần trên tôi đã nhắc ý kiến của một chuyền gia coi đây như một thực trạng xã hội, có cung ắt có cầu liên quan đến nhu cầu đời sống tính thần, đời sống tình dục của một cá nhân.

Ta cũng cần phân biệt rõ ràng hành vi cung ứng "dịch vụ" này đang tồn tại trong xã hội là "thuận mua, vừa bán", "tiền trao, cháo múc", không ai lừa dối, cưỡng bức ai cả. Nếu có tính tiết cưỡng bức thì là vấn đề hình sự - tội cưỡng dâm, hiếp dâm rồi.

Hoặc nếu đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác thì cũng là vấn đề hình sự trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình rồi. Việc "cho nộp phạt để tồn tại" như bạn nói, cũng là một cách hiểu. Việc xử phát đã đủ sức răn đe, làm cho người vi phạm "chừa", tránh xa, không tái phạm hay chưa, cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện căn cứ vào thực tiễn. Nếu nói là lúng túng trong việc xử lý thì quả thật tôi cũng nhận thấy điều đó.

PV:- Nhìn từ các nước trên thế giới, đều đang có xu hướng công nhận mại dâm là một nghề thì VN "muốn quản nhưng lại cấm". Nên hiểu nghịch lý muốn quảy lý nhưng không công nhận này của VN như thế nào?

TS Lê Hồng Sơn: Như đã nói ở trên, nhiều nước trên thế giới hợp pháp hóa hành vi mua, bán dâm, coi đây là một thực trạng đang tồn tại trong xã hội, người ta lập các "phố đèn đỏ", các khu vực để cho người bán dâm hành nghề có quản lý, khám chữa bệnh, thu thuế…

Ở Việt Nam, cũng đã có một số người đề xuất theo hướng này từ lâu lắm rồi chứ không phải ngày một, ngày hai gần đây. Để quyết theo hướng này, theo tôi, chắc chắn ở Việt Nam chưa hội đủ các điều kiện như ở các nước đã hợp pháp hóa hành vi mua, bán dâm.

Cách đấy ba, bốn mươi năm, tôi đã từng nghe một chuyên gia trong lĩnh vực hôn nhân gia đình phát biểu rằng trong xã hội tồn tại hành vi bán dâm và hành vi mua dâm là phản ánh một thực trạng khách quan. Một con người, trong một số hoàn cảnh nhất định, có nhu cầu được thỏa mãn tình dục và người ta tìm người "bán" để "mua".

Thuận mua, vừa bán. Một bên cung cấp "dịch vụ", một bên hưởng "dịch vụ" và trả tiền. Có cung thì có cầu và ngược lại. Quan điểm này không phải là không có những điểm xác đáng của nó.

Ngược lại, trong nhiều dịp, tôi cũng đã nghe một số người phát biểu vùi dập, quan điểm rất gay gắt phản bác, phê phán mạnh mẽ hành vi mua, bán dâm trong xã hội ta. Họ cho rằng, đối với hành vi này cần phải nghiêm cấm, cần phải xử phạt thật nặng nề.

Khi nghe quan điểm này, tôi thấy phảng phất quan điểm, cách thức xử lý của các cụ ngày xưa "gọt đầu, bôi vôi", "thả bè trôi sông" và treo biển đưa đi diễu trong làng, trong phố. Trên thế giới cũng có nước coi đây là một tội phạm và biện pháp xử lý của họ như thế nào thì các bạn đã biết rồi, nặng nề lắm, kể cả tử hình.

Hà Nội suy tư và học hỏi mô hình 'phố đèn đỏ'

PV: - Đã nhìn nhận đây là thực tế có cung – có cầu, đã không thể xóa bỏ hoàn toàn nhưng tại sao không thể coi đây là một nghề, cho đăng ký kinh doanh, nộp môn bài thu thuế, nhà nước quản lý, gái mại dâm được tồn tại như một nghề, như vậy vừa tránh bị bóc lột, lây nhiễm bệnh tật vừa bảo vệ được quyền của con người không bị xâm hại, bóc lột. Cái khó hiện nay là gì, thưa ông?

 TS Lê Hồng Sơn:  Đây là một câu hỏi hay. Có hiện tượng ở một số vùng biên, gái mại dâm phải chạy ra nước ngoài hành nghề. Băn khoăn lắm, đau xót lắm vì có nhiều hậu quả nghiêm trọng đã xảy ra, không ai bảo vệ chị em cả. Tôi đã từng nêu vấn đề này với một số địa phương khi tôi đến làm việc là: "tại sao có hiện tượng một số chị, em chạy qua biên giới để hành nghề mại dâm mà không có hiện tượng ngược lại chị em ở nước láng giềng chạy qua Việt Nam.

Hoặc nếu có cũng rất cá biệt? Lý giải hiện tượng này như thế nào?" Rõ ràng là có vấn đề lớn về điều kiện kinh tế xã hội, quan điểm xã hội, mức sống… cũng như chính sách quản lý. Trong câu hỏi, bạn cung nêu được ý mà nhiều người đồng thuận đó là nếu coi mại dâm là một nghề cho đăng ký kinh doanh, nộp thuế, được bảo vệ về sức khỏe, không bị xâm hại, bóc lột.

Đây là một hướng được nhiều nước theo và ở Việt Nam cũng có một phái theo quan điểm này. Tôi cũng đã nói rồi, vì nhiều lý do, chúng ta đang dừng ở mức lúng túng, bất cập như hiện nay.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hiếu Lam

Thứ Năm, 31/07/2014 09:22

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện