Việc giảm lãi suất cần đảm bảo hài hòa lợi ích của người gửi tiền, TCTD và khách hàng vay, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế và tiền tệ.
TBKTSG đã có buổi trao đổi với bà Nguyễn Thị Hồng,Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về các vấn đề xung quanh việc giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Tại sao NHNN không quy định trần lãi suất cho vay áp dụng chung cho tất cả các đối tượng khách hàng?Vì như thế sẽ dẫn đến tình trạng cào bằng lãi suất cho vay, không phân biệt được các đối tượng cần khuyến khích và đối tượng không khuyến khích. Vì vậy, NHNN chỉ quy định lãi suất cho vay đối với khoản cho vay mới thuộc 4 lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ) tối đa là 13%/năm. Lãi suất cho vay đối với các khoản mới được xác định trên cơ sở lãi suất huy động mới (hiện nay tối đa là 9%/năm).
Một số ý kiến cho rằng việc chỉ đạo các tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm lãi suất đối với các khoản vay cũ xuống mức tối đa là 15%/năm không phải là văn bản quy phạm pháp luật?
Giải pháp này được thể hiện bằng văn bản thông báo ý kiến chỉ đạo của Thống đốc NHNN (Thông báo số 198/TB-VP ngày 9/7/2012), không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà là sự đồng lòng của toàn ngành ngân hàng chia sẻ khó khăn đối với cộng đồng doanh nghiệp và người dân.
Mặt khác, hợp đồng tín dụng được lập trên cơ sở thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng theo nguyên tắc giao kết dân sự, nên việc điều chỉnh lãi suất cho vay là điều chỉnh điều khoản trong hợp đồng tín dụng và cần có sự thỏa thuận của bên vay với bên cho vay, không thể là mệnh lệnh hành chính của NHNN thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hồi tố việc giảm lãi suất đối với các khoản vay cũ.
Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng lãi suất của các khoản vay mới cần giảm thấp hơn, thậm chí dưới 10% kể cả các khoản cho vay cũ, ý kiến của bà về việc này thế nào?Việc giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn là yêu cầu thực tiễn, nhưng giảm đến mức nào thì cần phải tính toán hết sức thận trọng trên nhiều khía cạnh như sau:
Thứ nhất, mặc dù lạm phát tháng 7/2012 so với cùng kỳ là năm 2011 là 5,35%, nhưng với việc thực hiện quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh giải ngân, ứng trước chi ngân sách trong năm 2013, và mở rộng tín dụng trong 6 tháng cuối năm 2012 thì kỳ vọng lạm phát vẫn vào khoảng 7-8%, theo đó lãi suất huy động như quy định hiện nay là phù hợp.
Với mức lãi suất huy động như hiện nay mà các ngân hàng giảm lãi suất cho vay xuống dưới 10%/năm sẽ không đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại (cũng là một loại hình doanh nghiệp). Việc giảm sút lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng cũng là một yếu tố bất lợi đến độ tín nhiệm của hệ thống tài chính, theo đó ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thứ hai, lãi suất cho vay đối với các khoản vay cũ được cân đối từ nguồn huy động cũ với mức lãi suất cao trước đây (lãi suất huy động đầu vào tính cả dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, trích lập dự phòng rủi ro... khoảng 13%/năm, chưa kể một số ngân hàng có lãi suất huy động cao hơn), nên các ngân hàng có tỷ trọng các khoản cho vay cũ lớn giảm lãi suất xuống tối đa 15%/năm sẽ gặp khó khăn về nguồn tài chính để bù đắp cho các chi phí đầu vào.
Thứ ba, nếu so sánh lãi suất cho vay bằng đồng nội tệ của nước ta với nhiều nước phát triển khác, thì đó là một sự so sánh khập khiễng. Việt Nam là nước đang phát triển, lạm phát thường ở mức cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, khả năng huy động vốn từ tổ chức, cá nhân trong nước để cho vay đối với nền kinh tế còn hạn chế, doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay ngân hàng..., nên việc điều hành lãi suất cần đảm bảo hài hòa lợi ích của người gửi tiền, tổ chức tín dụng và khách hàng vay, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế và tiền tệ để đảm bảo kiềm chế lạm phát.
Theo TBKTSG