Động thái này chắc chắn sẽ làm tăng thêm áp lực kinh tế lên
Iran.
Bên cạnh Hàn Quốc và Nhật Bản quyết định sẽ
chiều lòng Washington, Trung Quốc cũng đã giảm mua dầu mỏ từ Iran do bất đồng
về giá mua với Tehran. Nhưng dù lí do gì đi nữa thì điều này cũng sẽ đe dọa
nghiêm trọng nền kinh tế vốn đang suy yếu của Iran với hàng loạt vấn đề như
đồng bản tệ mất giá, lam phát leo thang, và dư luận trong nước lo lắng trước
nguy cơ chiến tranh.
Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn
Độ, Hàn Quốc chiếm tới 60% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Iran. Tất cả các nước
trên đều phụ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt của Iran và các nước vùng Vịnh khác. Căng
thẳng ở vùng Vịnh leo thang đã khiến các chính phủ, doanh nghiệp ở châu Á
chuyển hướng sang dầu mỏ từ các nước khác như Nga, Việt Nam, Tây Phi, Iraq và
đặc biệt là Saudi Arabia.
Bên cạnh các lệnh trừng phạt đến từ Mỹ, châu Âu
cũng đang tiến tới một điều luật cấm nhập khẩu dầu mỏ từ Iran. Đây có thể được
coi là áp lực kinh tế lớn nhất của phương Tây lên Iran sau nhiều năm tranh cãi về
chương trình hạt nhân của Iran, bị phương Tây cáo buộc là nhằm mục đích sản
xuất vũ khí hủy diệt.
Đứng trước các biện pháp trừng phạt của Mỹ và
châu Âu, Iran đã có các biện pháp đáp trả với đe dọa đóng của eo biển Hormuz,
dấy lên nguy cơ gây đình trệ việc vận chuyển 1/5 lượng dầu mỏ giao dịch toàn
cầu. Bên cạnh đó, Iran còn tiến hành tập trận 10 ngày ở gần eo Hormuz.
Sức ép từ Mỹ
Chuyến thăm của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy
Geithner tới Bắc Kinh và Tokyo tuần này được coi là nỗ lực ngoại giao của
phương Tây nhằm thuyết phục các nước châu Á, củng cố các biện pháp trừng
phạt lên Iran. Ngày thứ 5 (12/1), ông Geithner đã nhận được sự ủng hộ từ phía Nhật Bản về việc giảm nhập dầu Iran, trong khi Trung Quốc vẫn không đồng tình.
Nỗ lực của các nước châu Á nhằm làm giảm lệ
thuộc vào dầu thô của Iran chính là động thái đáp lại điều luật mới được Quốc
hội Mỹ thông qua hồi đầu năm nhằm từng bước tiến hành trừng phạt Iran vào cuối
tháng 6/2012, theo đó điều luật này sẽ gây khó khăn cho các nước châu Á khi
nhập khẩu dầu mỏ từ Iran và phong tỏa các giao dịch của ngân hàng trung ương
Iran. Lệnh trừng phạt sẽ không bao gồm thực phẩm, y tế, và các hàng hóa nhân đạo
khác.
Và quan trọng hơn, điều luật sẽ không trừng phạt
các nước đã “cắt giảm đáng kể” lượng dầu nhập từ Iran. Tuy nhiên luật này lại
chưa định nghĩa thế nào là “cắt giảm đáng kể”, tùy thuộc vào chính quyền Mỹ
quyết định.
Phản ứng của châu Á
Trước áp lực từ Mỹ, các nước châu Á đã dần cắt
giảm lượng dầu thô nhập từ Iran. Tuy nhiên Nhật Bản và Hàn Quốc đã thể hiện
quan ngại việc cắt giảm này có thể gây phương hại nền nền kinh tế của mình.
Nhật Bản, là nước nhập khẩu dầu Iran lớn thứ
hai, nhập 4/5 lượng dầu của mình từ các nước vùng Vịnh mà lượng dầu này phải
trực tiếp được vận chuyển qua eo Hormuz. Chánh văn phòng chính phủ Nhật Bản,
Osamu Fujimura, đã bày tỏ quan ngại về
nguy cơ kinh tế nếu Nhật ngừng nhập dầu từ Iran.
Công ty lọc dầu lớn nhất của
Nhật Bản, JX Nippon Oil and Energy, tuyên bố đã tiến hành đàm phán về việc mua
dầu mỏ từ Saudi Arabia và các quốc gia khác. Ngoài ra, chính phủ Hàn Quốc cũng tuyên bố sẽ
hạn chế nhập khẩu dầu mỏ và các sản phẩm có liên quan từ Iran.
Trung Quốc từ chỗ nhập khẩu 11% dầu mỏ của minh
từ Iran, nay cũng đã cắt giảm lượng dầu mua hàng ngày từ Iran, ước tính từ 15.000
thùng một ngày, tương đương giảm 3% lượng nhập hàng ngày lên con số lớn hơn
nhiều. Tuy nhiên chưa rõ Trung Quốc cắt giảm nhập khẩu vì mục đích chính trị
hay chỉ đơn giản là ép Iran phải bán dầu cho mình với mức giá và các điều khoản
có lợi hơn.
Giới phân tích cho rằng, rất có khả năng Trung Quốc cắt giảm lượng
dầu mua dài hạn do cho rằng có thể mua được dầu với giá rẻ hơn trên thị trường
trong ngắn hạn nếu Iran bị cấm xuất dầu sang châu Âu. Mặt khác, Trung Quốc tỏ
ra tương đối thận trọng trong vấn để Iran, tuyên bố nước này phản đối mọi biện
pháp trừng phạt của Liên Hiệp Quốc đối với Iran và hi vọng sẽ không xảy ra các
hành động quân sự.
Ngoài ra, Ả Rập Xê ut cũng đã tuyên bố sẽ tăng
sản lượng để bù đắp lượng dầu thiếu hụt từ Iran, OPEC chắc chắn sẽ đủ khả năng
đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường dù không có Iran. Thị trường dầu mỏ chưa rơi
vào khủng hoảng, mà bằng chứng là phí bảo hiểm cho các tàu chở dầu vẫn chưa
tăng do lệnh trừng phạt của châu Âu phải 1 tháng nữa mới có hiệu lực và xác
suất thực sự đóng cửa eo Hormuz là không cao.
Tuy nhiên giới phân tích vẫn cảnh báo thị trường
dầu mỏ toàn cầu vẫn sẽ căng thẳng, ngay cả khi Lybia sản xuất trở lại. Bất kỳ
bất ổn, gián đoạn nào tại Trung Đông cũng có thể khiến giá dầu leo thang, đe
dọa khả năng phục hồi của kinh tế thế giới.